TIME

Tài nguyên dạy học

LIÊN KẾT WEBSITE

TIN TỨC ONLINE

LỊCH ÂM DƯƠNG

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Mai Văn Phú)
  • (Diệp Minh Tuấn)
  • (Administrator)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Tulips.jpg Hydrangeas.jpg PHTO0083.jpg Hetuanhoan2.swf Hoa_1.jpeg TrtaEY.jpg Su_lon_len_va_phan_chia_cua_TB_va_mo_TV1.jpg Cac_bo_phan_cua_hoa6.jpg Bien_dang_cua_than5.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    NHỮNG ĐỊA DANH NỖI TIẾNG

    free counters








    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Theo dòng lịch sử >

    Ngoại khóa về anh hùng liệt sỹ Quách Xuân Kỳ

    NGOẠI KHÓA VỀ ANH HÙNG LIỆT SĨ QUÁCH XUÂN KỲ

    NHÂN KỶ NIỆM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

         Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày Quốc phòng toàn dân, nhà trường, chi đoàn, liên đội và chi hội cựu chiến binh tổ chức ngoại khóa với chủ đề: Anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ - người chiến sĩ của lực lượng vũ trang nhân dân. Tôi xin được trình bày nội dung ngoại khóa với 2 phần:

    Phần I: Thân thế và sự nghiệp anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ

    Phần II: Anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ - người chiến sĩ của lực lượng vũ trang nhân dân.

    I/ Thân thế và sự nghiệp anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ

    Trong bài thơ “Một nhành xuân” nhà thơ Tố Hữu đã thảng thốt nghẹn ngào:

    Năm hai mươi của thế kỷ hai mươi

    Tôi sinh ra mà chưa được làm người

    Nước đã mất, cha đã là nô lệ

    Ôi, những ngày xưa mưa xứ Huế

    Mưa sao buồn vậy nỗi mưa rơi

    Ngẫng đầu lên chẳng thấy mặt trời

    Đất lai láng nhưng là nước mắt.

    Có lẽ vậy thôi

    Tôi sẽ trôi như con thuyền lay lắt

    Trên dòng sông mù sương

    Tôi sẽ khô như cây sậy ven đường

    Đâu dám ước làm hoa thơm trái ngọt

    Tôi sẽ chết lặng im.

    Như con chim không bao giờ được hót

    Một tiếng ca lảnh lót cho đời

    Nếu chậm mùa xuân ấy em ơi!

         Cũng chính trong những năm hai mươi của thế kỷ hai mươi ấy tại làng Hoàn Lão (bây giờ là thị trấn Hoàn Lão) xã Trung Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình anh hùng Quách Xuân Kỳ được sinh ra. Quách Xuân Kỳ sinh năm 1926. Thân phụ là ông Quách Nguyên Hàm, một danh y nỗi tiếng trong vùng. Thân mẫu là bà Trần Thị Điển, Người hay thơ phú, tần tảo làm ăn lương thiện nuôi con. Ta như còn nghe vang vọng đâu đây trong không gian bao la vô tận lời ru hời tha thiết:

    À ơi

    Con cò bay lã bay la

    Đồng đang có mõi ghé qua lùng Tùng

    Con đi trăm chốn lạ lùng

    Sàng trong, lọc đục nơi dừng chốn qua

    Biển mặn mòi, đất bao la

    Chắt chiu đất, biển nở hoa cho đời.

    Biển Trung Trạch, đất Hoàn Lão đã nở hoa cho đời bằng chính sự ra đời của anh hùng Quách Xuân Kỳ. Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, gia đình có 5 anh em đều tham gia hoạt động cách mạng, anh Quách Xuân Kỳ sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản. Chứng kiến cảnh quê hương bị thực dân Pháp chiếm đóng, nhân dân bị ức hiếp trăm bề, năm 1944 anh Quách Xuân Kỳ quyết định tạm dừng việc học để tham gia Việt Minh bí mật.

    Vẫn biết:         

    Đời cách mạng từ khi ta đã hiểu

    Dấn thân vô là phải chịu tù đày

    Là gươm kề tận cổ súng kề vai

    Là thân sống chỉ coi còn một nửa

    Song: Chí đã quyết, anh sẵn sàng xếp bút nghiên đi theo tiếng gọi thiêng liêng của quê hương đất nước đang trong bước lầm than. Là một cán bộ Việt Minh xông xáo, quả cảm, đóng góp công lớn vào công cuộc lãnh đạo nhân dân giành chính quyền ở huyện lỵ Bố Trạch; tháng 01 năm 1945 anh Quách Xuân Kỳ được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam. Trong một cuốn sổ tay của anh có ghi đậm nét hai câu thơ của đồng chí Tố Hữu:

    Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

    Mặt trời chân lý chói qua tim.

    Năm 1946 anh Quách Xuân Kỳ cùng các đồng chí: Phan Khắc Hy, Mai Trọng Nguyên nhận nhiệm vụ chỉ huy một đội tự vệ  vừa tăng gia sản xuất, vừa xây dựng khu căn cứ ở vùng Ba lùm, Ba lòi. Từ một thư sinh anh đã làm quen với mọi công việc, bắp thịt săn lại, bàn tay chai sạn, nước da ngăm đen. Anh đã chiếm được lòng tin yêu của mọi người. Các đồng chí trong đội tự vệ này về sau đã trở thành các cán bộ cốt cán của phong trào huyện Bố Trạch khi kháng chiến bùng nổ.

    Ngày 27/3/1947, thực dân Pháp đổ bộ lên đất Quảng Bình, tung quân càn quét chiếm đóng khắp nơi. Đi đến đâu chúng khủng bố, chém giết, cướp phá. Làng quê tiêu điều, lòng dân uất hận. Làng Hoàn Lão, huyện Bố Trạch chìm trong máu lửa. Anh Quách Xuân Kỳ đã lãnh đạo nhân dân rào làng chiến đấu, thực hiện vườn không nhà trống, đào hào bí mật, kiên cường bám đất quê hương, sẳn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do, vì quê hương máu thịt.

    Tháng 7-1948 anh Quách Xuân Kỳ được bầu làm bí thư huyện ủy Bố Trạch: Thời gian này tình hình Quảng Bình nói chung và Bố Trạch nói riêng đều rất căng thẳng. Thực dân Pháp phong tỏa khắp nơi. Bọn hội tề, địa chủ ra mặt cấu kết với đế quốc để khủng bố tàn sát nhân dân. Chúng thẳng tay chém giết cán bộ chiến sĩ của ta. Bố Trạch vốn đã nghèo lại càng thêm gian khổ:

    Muổi Khe Gát

    Vắt Ba Rền

    Sên Chà Ang

    Cọp Trộ Rớ

    Ai đi qua Quảng Bình

    Hẵn từng quen huyện Bố

    Huyện khắc khổ

    Dân nghèo đất đỏ,

    Dưới chân Ba Rền

    Thăm thẳm một màu xanh

    Chợ Bố Trạch sắn nhiều gạo ít

    Nâu Ba Rèn củ tốt hơn khoai

    Sông Dinh nước cạn bãi bồi

    Đồng khô cát đọng mùa vơi mùa cằn

    (Xuân Hoàng)

    Trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy anh Quách Xuân Kỳ được huyện ủy cử về xây dựng cơ sở ở các xã Trung Trạch, Tây Trạch và Hải Trạch nơi mà quân địch khủng bố  nhiều nhất. Anh đã cùng với cán bộ lãnh đạo các xã bám đất, bám dân lăn lộn xây dựng lại phong trào, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, hoạt động chiến tranh du kích làm cho kẻ địch ăn không ngon, ngủ không yên, trong thời gian này chúng niêm lệnh ai bắt được Quách Xuân Kỳ sẽ được thưởng hàng ngàn bạc Đông Dương. Chúng bằng mọi thủ đoạn để truy nã, để lùng bắt bằng được Quách Xuân Kỳ. Song kiên định sống giữa lòng dân và với bản lỉnh quả cảm cuả mình, với khát vọng hoàn thành sứ mệnh nhân dân giao phó Anh đã bền bỉ vượt qua mọi gian nan để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân huyện Bố Trạch.

    Giặc chiếm đóng cười gằn thách thức

    Người dân nghèo Bố Trạch đứng lên

    Củ khoai luống đất đang hiền.

    Bỗng trỗi dậy Ba Rền hoen ráng đỏ.

    Dãi đất hẹp đồn dăng như lưới bủa

    Đường liên hương vị trí khít tiền vai

    Cự Nẫm mọc lên thành một pháo đài

    Rú Ngốn, rào Son mấy lần chôn xác giặc

    Quách Xuân Kỳ

    Phan Khắc Hy

    Đặng Tất

    Một lứa trai làng đã lớn lên

    Chạy súng Trung Châu, chiều ghi vào nhật ký

    Đời tươi như nắng ở lòng em

    Lăn lộn trong gian nan

    Dạn dày trong lửa máu

    Người cán bộ thư sinh

    Qua tháng năm dần rõ cuộc đời mình.

    Bố Trạch nhỏ như lòng bàn tay

    Giặc dập rồi xòe, giặc xòe lại nhập

    Họ dấy phong trào, lửa lên giặc dập

    Lửa tàn rồi họ lại đẩy bùng cao.

    Cứ thế trong ba năm

    Họ quần nhau với giặc

    Hỷ diệt tây đốt năm lần

    Cao Lao tây lùng bảy lượt

    Trai Hoàn Lão chết gần hết tuốt

    Gái ôm bom nằm đợi giặc đi tuần

    (Xuân Hoàng)

    Hội nghị kháng chiến Liên khu IV (26/02 đến 07/3/1949) đã tuyên dương: “Ông Quách Xuân Kỳ - chủ nhiệm Việt Minh Bố Trạch xung phong len lỏi vào vùng bị chiếm để gây lại các cơ sở đã bị tan rã và đã gây dựng phong trào Bố Trạch tiến nhanh về mọi phương diện, đoàn thể nhân dân cũng như chính quyền. Tình hình khả quan hiện tại ở Bố Trạch một phần lớn là nhờ công ông Kỳ.”

    Tháng 02 - 1949 Anh Quách Xuân Kỳ trúng cử tỉnh ủy viên Quảng Bình và được tỉnh ủy cử vào công tác tại Đồng Hới, trực tiếp làm bí thư thị ủy. Trong những ngày thử thách ấy Anh đã từng viết: “Đây là một việc khó khăn đầy nguy hiểm mà mình biết trước rằng sẽ chết như các bạn trước đây, nhưng mình vẫn thấy thú vị vì hợp với sở thích của mình…” và Anh đã nguyện “Đem hết tài trí để phủ lên Đồng Hới thân yêu màu đỏ, màu nâu, màu của kháng chiến, của dân tộc anh hùng, thay hẳn màu hồng, mùi phấn nước hoa của trụy lạc, nô lệ”…

    Đang lăn lộn với phong trào thì giữa năm 1949 trong một trận càn quét kéo dài Anh đã bị địch bắt. Ở nhà lao Đồng Hới anh đã nếm đủ mọi cực hình tra tấn của kẻ địch, chúng tra tấn, dụ dỗ bằng mọi cách song anh vẫn giữ nguyên khí tiết cách mạng. Anh tìm cách liên lạc với các đồng chí trong tù và liên lạc với bên ngoài xin tỉnh ủy cho thành lập chi bộ trong nhà tù. Được tỉnh ủy đồng ý, chi bộ nhà lao được thành lập và Anh được bầu làm bí thư. Anh trở thành nguồn cổ vũ, niềm yêu thương và nơi gửi gắm lòng tin, mơ ước và hy vọng của các chiến sĩ trong lao tù đế quốc.

    Trường giao chiến không một giờ phút lặng

    Rồi chiến thắng sẽ về ta, chiến thắng

    Và tương lai ta sẽ chiếm về ta.

    Dù đã dùng mọi thủ đoạn nhưng giặc Pháp không thể lay chuyển được ý chí sắt đá của người chiến sĩ Quách Xuân Kỳ. Cuối cùng chúng đã quyết định đưa anh Quách Xuân Kỳ đi xử bắn. Biết tin ấy, anh thản nhiên, vẫn lãnh đạo chi bộ đấu tranh, giáo dục các đảng viên giữ vững tin thần, vẫn học tập chính trị, học tập ngoại ngữ.

    Biết ngày mình bị đưa đi xử bắn không xa nữa, Anh cử đồng chí khác thay nhiệm vụ bí thư chi bộ và đã cắn ngón tay, lấy máu viết bức huyết thư gửi ra chiến khu. Trong bức thư có đoạn:...”Khẩu hiệu trước chết một phút vẫn cười, ta vẫn nhắc, cho nên sống từng ngày chờ chết Kỳ vẫn thản nhiên như thường…”

    …Bị tra tấn nhiều rồi, giờ còn đợi thứ tra tấn cuối cùng: Chết; có nhiều ý nghĩa hay lắm Hạ…Mấy hôm trước đây Q, P, T, Đ và hai anh du kích đã hiên ngang nhận cái chết, nhìn họ ra đi, Kỳ cảm thấy một cái gì đẹp đẽ trong những ngày thiếu thốn.

    …Đến phút cuối cùng vẫn học, vẫn chiến đấu. Kỳ đã học thêm tiếng Pháp, nghiền nhiều vấn đề về các Đảng chính trị, các tôn giáo, vẫn chưa tìm cách tiến tới lãnh đạo nhà lao.

    Thôi mệt quá, phải dùng nhiều máu quá rồi. H nói với các anh ở tỉnh và T và các anh chị, Kỳ có lời chào quyết thắng (ngày 09/7/1949)

    Bức huyết thư gửi ra, các đồng chí bên ngoài nhận được hai hôm thì ngày 11 tháng 7 năm 1949 giặc Pháp đưa Anh Kỳ đi hành quyết. Sáng ngày 11/7/1949 nhà lao Đồng Hới chìm đắm trong màn sương sớm, bỗng tiếng chôn rộn truyền từ căng này đến căng khác của nhà lao: “Sếp lao phải cho chúng tôi gặp mặt anh em tử tù; đã đảo bọn khủng bố giết người”. Hạ sĩ Hoa - một ngụy quân có cảm tình với cách mạng, với kháng chiến chạy đến gõ cửa xếp lao: Báo cáo sếp, tù ở các Căng đòi gặp những người sắp bị xử bắn.

    Xếp lao: Không được, đứa nào làm loạn cho phép bắn bỏ!

    Hạ sĩ Hoa: Thưa xếp, dân tộc Việt Nam, mà tôi chắc chắn dân tộc Pháp cũng vậy, nghĩa tử là nghĩa tận, tù nhân đề nghị cho họ gặp mặt, ít nhất cũng cho họ cử đại diện…

    Xếp lao: Thôi được, tôi chấp nhận, chỉ ba người, ba người thôi nhé…

    Hạ sĩ Hoa vừa báo tin được cử anh em tù đại diện gặp mặt những người bị xử bắn, quay trở lại thì chiếc Cam nhông GMC chở 20 tên lính súng tuốt lưỡi lê, mặt đằng đằng sát khí. Cánh cửa xà lim số 5 ken két mở, tên xếp lao đứng trước cửa gọi: Quách Xuân Kỳ: Ông biết hôm nay chứ…

    Quách Xuân Kỳ cười ngạo nghễ: Hôm ngay ta sẽ chết đễ dân tộc Việt Nam ta còn. Tiếng hô từ các phòng lao vọng lại: Đả đảo quân giết người, đả đảo thực dân Pháp. Anh Ng - bí thư chi bộ Ba Rền (trong nhà lao) và hai anh thay mặt cho anh em trong tù đến gặp anh Kỳ và hai anh khác ra đi lần này. Họ đứng lặng nhìn nhau, anh Ng trao cho anh Kỳ chiếc khăn trắng mà chị em tù nhân đã thêu suốt đêm một nhánh bông hồng. Anh Quách Xuân Kỳ rưng rưng nước mắt, dùng mu bàn tay chai sạn gạt làn nước chưa kịp động trên bờ mi và nói dõng dạc: Các đồng chí ở lại, giữ vững chí khí cách mạng. tương lai tươi sáng sẽ thuộc về chúng ta, thuộc về cách mạng. Gửi lời vĩnh biệt.

    Phía nhà lao tiếng đấm cữa ầm ầm, những cánh tay thò ra cánh song sắt, tiếng thét rung chuyễn: Đả đảo, đả đảo, đả đảo quân giết người, Quách Xuân Kỳ, Quách Xuân Kỳ, Quách Xuân Kỳ bất diệt…

    Cùng sáng ấy: Sáng 11/7/1949. Hoàn Lão quê hương, nơi sinh ra và rèn luyện Quách Xuân Kỳ nên người đã chứng kiến sự hy sinh bất diệt của Anh. Quân sát nhân trói Anh vào cọc. Bọn tâm lý chiến ra rả tuyên truyền trong lúc chợ Hoàn Lão còn rất đông người: Hỡi đồng bào hãy chính kiến cuộc hành hình những tên Việt Minh…Thằng chánh mật thám mặt đỏ gay, tay lăm lăm khẩu súng lục miệng gào thét: Bịt mắt nó lại. Anh Quách Xuân Kỳ bình thản: Không cần, tao không cần bịt mắt! Tao muốn nhìn thẳng vào cái chết! Hỡi bà con cô bác! Hãy vững tin ở cách mạng, vững tin vào tương lai tươi sáng. Kháng chiến nhất định sẽ thắng lợi: Quách Xuân Kỳ xin gửi bà con  lời vĩnh biệt. Súng nổ. Át cả tiếng súng, tiếng Anh hô vang: Hồ Chủ Tịch muôn năm!... Đảng cộng sản muôn năm! Đả đảo thực dân Pháp. Năm ấy đồng chí Quách Xuân Kỳ vừa tròn 23 tuổi. Tuổi thanh xuân rực lửa anh hùng. Năm 1998 đồng chí được nhà nước truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được chủ tịch nước truy tăng Huân chương độc lập hạng Ba.

    II/ Anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ - Người chiến sĩ của lực lượng vũ trang nhân dân - anh bộ đội cụ Hồ

    Điểm lại một số nét đơn sơ về thân thế, sự nghiệp của anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ như đã nêu ở phần trên, chúng ta như nghe đâu đây trong gió thoảng, trong tiếng trống trường còn vọng tiếng Anh cười. Tiếng cười trong trẻo hồn nhiên và tràn đầy khát vọng của một cậu học trò với ca lô đội lệch. Rồi xếp bút nghiêm lên đường đi kháng chiến, ta bắt gặp hình bóng anh Quách Xuân Kỳ trong hình ảnh anh vệ quốc quân

    Lũ chúng ta bọn người tứ xứ

    Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ

    Quen nhau từ thưở một hai

    Súng bắn chưa quen quân sự mười bài

    Lòng vẫn cười vui kháng chiến

    (Tố Hữu)

    Hoặc: Quê hương anh nước mặn đồng chua

    Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

    Tôi với anh đôi người xa lạ

    Từ phương trời, chẳng hẹn quen nhau

    Súng bên súng đầu sát bên đầu

    Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

    Đồng chí!               

                                                     (Chính Hữu)

    Theo dòng nhật ký viết dở của anh Quách Xuân Kỳ, ta bắt gặp ở anh chất người chiến sĩ, người lính, anh bộ đội cụ Hồ ở hai nét tính cách: tình yêu thương mênh mong và lửa căm thù cháy bỏngđể hành động chiến đấu kiên cường.

    Tình yêu ở anh Quách Xuân Kỳ là tình yêu quê hương đất nước. Một tình yêu tưởng như quá lớn lao nhưng lại hết nỗi bình dị thân quen. Trong nhật ký viết ngày 03/6/1947 anh viết: Tôi về Hoàn Lão một chiều vàng đẹp đẽ. Về Hoàn Lão phải qua làng Võ Thuận, Hòa duyệt - nơi đã ghi những chiến công oanh liệt, nơi ngày trước là những dãy nhà sầm uất với những vườn cau, mít sum suê, nơi ngày nay chỉ còn những đám tro tàn với những cây cau, mít cháy vàng xác xơ, những cây cột nhà cháy đen thui phơi mình trong vườn vắng… Về Hoàn Lão, ôi! Còn đâu những buổi chiều đẹp đẽ, dân làng vui vẽ trên đường sau những giờ làm việc mệt nhọc. Còn đâu những giọng hát trong trẻo của mấy  chị đi cấy khi chiều tà, cắm vội cho xong đám ruộng để về nhà, những anh nông phu chất phác cất cao giọng hò gấp tát cho xong đám ruộng…. Còn đâu văng vẳng tự không gian nhà ấm áp hai bên đường tiếng hát du dương của mấy bà mẹ ru con…Hai bên đường chỉ còn những đám tro tàn lạnh ngắt, những cây cau, chuối cháy sém xác xơ, những cây cột nhà đen thui, chơ vơ, lạnh lẽo…

    Tôi đứng lặng trước cảnh hoang tàn và một mối căm hờn không bờ bến tràn ngập trong lòng tôi.

    Ta bắt gặp cảm xúc ấy, tấm lòng ấy trong người chiến sĩ của thời kỳ đánh Mỹ khi trên đường ra trận phải chính kiến cảnh sân trường bị tàn phá tan hoang và những trang giấy học trò hoen máu:

    Em đến trường tay cầm cuốn vỡ

    Gió thổi đời em lật từng trang mở

    Trường mới như tâm hồn em lợp toàn ngói đỏ

    Chúng mang bom ngàn cân dội lên trang giấy

    Mỏng như ánh trắng ngần, hiền như lá mùa xuân

    Ôi! từng trang giấy

    Trong lòng anh đập khẻ hôm nay

    Như một bàn tay vẫy

    Như một bàn tay ròng ròng máu chảy

    Nếu như em sống lại

    Anh sẽ đi một ngàn đêm

    Để giành lấy cho em

    Một ngày không sợ hãi

    Bóng quân thù hung ác

    Không che được ngọn đèn soi cho em ngồi học

    Ôi, ánh đèn thúc dục như mệnh lệnh hành quân

    (Chính Hữu)

    Và cảm xúc ấy cũng là cảm xúc thiêng liêng của biết bao chiến sĩ trong cuộc trường chinh giải phóng dân tộc, giành và gìn giữ độc lập tự do cho Tổ Quốc. Trong gian lao chiến đấu, trong ác liệt đạn bom, chỉ cần một phút giây yên tỉnh nơi cận kề cái chết người chiến sĩ da diết nhớ quê hương:

    Quê hương ơi những chiều biển lặng

    Con cá chuồn lao phóng như tên

    Ánh đèn xanh đêm hè soi mực

    Con sứa dập dềnh chờ nước biển lên

    Ngôi tháp chàm rêu phong phủ kín

    Bầy dơi nghe động bay vù

    Con sư tử đá nằm lim dim ngủ

    Rừng dừa xa thấp thoáng bóng sương mù

    (Thu Bồn)

    Ta bắt gặp trong nhật ký anh Quách Xuân Kỳ nỗi nhớ Mẹ đồng điệu với nỗi nhớ mẹ cháy lòng của người chiến sĩ trên đường ra pháp trường:

    Mẹ ơi, con vẫn ở giửa lòng đất nước

    Trời nắng thiêu nghe rìu mẹ chém cây

    Chiếc rìu cùn như đời mẹ cực

    Đã cho con bao bát cơm đầy

    (Thu Bồn)

    Ta bắt gặp trong nhật ký Quách Xuân Kỳ những trang viết , những lời tâm tình nén chặt khát khao hạnh phúc với  người yêu - Huế. Khát khao tìm kiếm hạnh phúc thật giản dị mà thiêng liêng của người chiến sĩ:

    Hạnh phúc là gì? Đã bao lần ta lúng túng

    Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi chưa ra

    Cho đến ngày cất bước đi xa         

    Tiền tuyến gọi hai chúng mình có mặt

    Nhớ không em cái mùa mưa đói quay đói quắt

    Em xanh gầy gùi sắn nặng trên lưng

    Mỗi bữa chia nhau nữa bát măng rừng

    Môi thấm lạnh, mái tóc mềm đẫm ướt

    Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép

    Con sông Giành gầm réo miên man

    Nước lũ về, trang giấy nhỏ mưa chan

    Em cứ viết, lòng dạt dào cảm xúc

    Và em gọi đó là hạnh phúc

    (Dương Hương Ly)

    Khát khao yêu thương, yêu thương hết mực và tình yêu thương của người chiến sĩ kết tinh cao đẹp vào tình đồng chí, đồng đội. Anh Quách Xuân Kỳ, trong nhật ký của mình đã dành cho đồng chí, đồng đọi của mình những trang viết trân trọng và cảm xúc nhất bởi:

    Đồng đội ta là hớp nước uống chung

    Là vắt cơm sẻ nữa

    Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa

    Chia khắp anh em một mẫu tin nhà

    Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp

    Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết

    (Chính Hữu)

    Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trường kỳ oanh liệt kết thúc, trong “Máu và hoa” nhà thơ Tố Hữu viết.

    Giặc Mỹ tưởng ngủ yên trên giường vàng và đầu gối lên bom

    Nghe chúng ngáy đủ run, bởi đã có dã man làm luật

    Bỗng tỉnh dậy bàng hoàng, sắp tắt hoàng hôn

    Người chôn chúng là anh- anh giải phóng quân mủ tai bèo chân đất

    Xử phạt chúng là anh- nhân danh tình thương và lẽ phải

    Vũ khí chính là anh- tình yêu thương mênh mong

    Vũ khí chính là anh- lữa căm thù cháy bỏng

    Tình yêu thương và lửa căm thù đã hun đúc cho người chiến sĩ một lý tưởng cao đẹp, một bản lĩnh phi thường.

    Anh Quách Xuân Kỳ sẳn sàng xếp bút nghiêm để tự nguyện bước vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc năm anh 18 tuổi. Độ tuổi đời phơi phới tương lai và tràn đầy lạc quan của:

    Những chàng lính tre măng tơ

    Nghêu ngao gõ bát hát chờ cơm sôi

    Trên đường ra trận trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Các anh bước vào cuộc chiến, chấp nhận gian khổ, hy sinh bình thản đến lạ lùng. Và ta bắt gặp hình bóng của người chiến sĩ Quách Xuân Kỳ băng đồng vượt suối lăn lộn với phong trào kháng chiến trong hình tượng của anh giải phóng quân:

    Anh đi xuôi ngược tung hoành

    Bước dài như gió lay thành chuyển non

    Mái chèo một chiếc xuồng con

    Mà sông nước dậy sóng cồn đại dương

    (Tố Hữu)

    Điều kỳ diệu hơn hết là người chiến sĩ sẳn sàng chấp nhận cái chết lúc lâm nguy, chấp nhận cái chết để hóa thành bất tử: chấp nhận hy sinh cho Tổ Quốc nở hoa độc lập, kết quả tự do, cho hạnh phúc muôn đời con cháu mai sau. Theo ký ức của những tấm lòng mến mộ anh Quách Xuân Kỳ, khí phách của người chiến sĩ Quách Xuân Kỳ trong cuộc chiến là tư thế hiên ngang của anh giải phóng quân:

    Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất

    Nhưng anh gượng đứnglên tỳ súng trên xác trực thăng

    Và anh chết trong khi đang đứng bắn

    Máu anh phun thành lửa đạn cầu vồng

    Giặc thấy anh hốt hoảng xin hàng

    Có thằng quỳ xuống dưới chân anh cúi đầu xin tha mạng

    Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

    Vẫn đàng hoàng nổ súng tiến công

    Anh tên gì, hỡi anh yêu quý

    Anh chẳng để lại chi trước lúc lên đường

    Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ

    Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân

    (Lê Anh Xuân)

    Khí phách của người chiến sĩ Quách Xuân Kỳ trên đường ra pháp trường và trong giờ hành quyết là khí phách của người anh hùng trong mọi thời đại. Ta bắt gặp trong hình tượng anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi dáng hình cao đẹp của anh Quách Xuân Kỳ.

    Chúng trói anh vào cọc mấy vòng dây

    Mười họng súng, một băng đen bịt mắt

    Anh hét lớn: Chính Mỹ kia là giặc

    Và tay anh giật phắt mãnh băng đen

    Anh muốn thiêu bằng mắt lũ đê hèn

    Với cái chết anh muốn  nhìn giáp mặt

    Như ngon lửa không bao giờ tắt

    Và khi: Lệnh hàng đầu quì xuống, một giây thôi

    Anh thét lên: Hãy nhớ lấy lời tôi

    Đả đảo đế quốc Mỹ

    Đả đảo Nguyễn Khánh

    Hồ Chí Minh muôn năm

    Hồ Chí Minh muôn năm

    Hồ Chí Minh muôn năm

    Phút giây thiêng liêng anh gọi Bác ba lần

    Súng đã nổmười viên đạn Mỹ

    Anh gục xuống nhưng anh thẳng dậy

    Anh hãy còn hô: Việt Nam muôn năm

    Máu tim anh nhuộn đỏ đất anh nằm

    (Tố Hữu)

    Máu tim anh, máu người chiến sĩ, máu của những trái tim “Biết lẽ phải, biết yêu thương căm giận”, “Biết đi tới và làm nên thắng trận”. Dòng máu Lạc Hồng truyền mãi qua bao thế hệ đến hôm nay.

    Kính thưa toàn thể các thầy cô giáo, cùng các em học sinh thân yêu.

    Với những tư liệu còn rất khiêm tốn, chúng ta cùng nhau theo dòng lịch sử để tưởng nhớ anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ cùng bao nhiêu anh hùng liệt sĩ đã từng cống hiến, hy sinh cho độc lập tự do của Tổ Quốc, cho sự nghiệp đổi mới của Đảng hôm nay.

    Vẫn biết: “Khi ta đến đặt hoa thì đá kia thôi chảy máu”. Song thầy và trò trường THCS Quách Xuân Kỳ mãi mãi phấn đấu để tiếp thêm dòng máu người chiến sĩ cho cuộc sống hôm nay và mai sau.

    Cho con hát bài ca ngợi ca đất mẹ

    Hoàn Lão quê ta bền bĩ kiên cường

    Cho con hát bài ca, ca ngợi mái trường

    Được mang tên người anh hùng lớn lên từ đất mẹ

    Quách Xuân Kỳ của thời trai trẻ

    Lấy máu đào tắm mát đất quê hương

    Để hôm nay con có một mái trường

    Đẹp đẽ, khang trang sánh vai cùng thời đại

    Quách Xuân Kỳ tên anh còn sống mãi

    Xin trân trọng cảm ơn!

                                                                                

     

     

     Biên tập: Trang Hiếu Đạo

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Trường Thcs Quách Xuân Kỳ @ 09:46 14/11/2012
    Số lượt xem: 2379
    Số lượt thích: 2 người (Trần Thị Nguyên Hoa, Nguyễn Thị Hải Lý)
     
    Gửi ý kiến